A Ha Lại Thằng Vũ Khiêu
A ha! khệnh khạng Vũ Khiêu
Khăn rằn lịch lãm ra điều văn nhân
Mã Giám Sinh, giống hán gian
Việt gian cũng giống chó săn lạc loài
BÁT CANH CUA ĐỒNG ( batcanhcuadong.blogspot.com ) Thơ văn tôi viết, chỉ mong qúy vị nếu muốn trích dẫn xin ghi rõ đúng ngày tháng tôi sáng tác để tiện việc tra cứu đối chiếu với hoàn cảnh lịch sử, xuất xứ nào dẫn tới những cảm xúc sáng tạo này. Xin gửi lời chào thân ái và trân trọng tới cộng đồng mạng, tới những người con mang dòng máu Lạc Hồng.
A Ha Lại Thằng Vũ Khiêu
A ha! khệnh khạng Vũ Khiêu
Khăn rằn lịch lãm ra điều văn nhân
Mã Giám Sinh, giống hán gian
Việt gian cũng giống chó săn lạc loài
Cáo Cầy Là Đây*
gửi giặc gìa văn hóa Vũ Khiêu
Sơn hà linh khí ôi thiu
Sinh con quái vật liu điu mọt đời
Tung hô bợ đỡ qúa lời
Ngo ngoe sản phẩm nửa vời đười ươi
Giáo Sư Cò Ỉa
Thơ trào phúng
Việt Nam lắm giáo sư cò ỉa
Tấn phong hàm, ngành bịa chuyện cười
Ba hoa phét lác một thời
Uốn lưng quỳ gối, trọn đời ngợi ca
Mong Bác Trọng Trở Lại Thế Gian
Bác về cõi Phật không có cửa
Người ở dương trần dựa dẫm ai
Mau mau xuống nẻo tuyền đài
Lê Nin, Các Mác đầu thai kiếp nào?
Bản Chất Nô Tài
Thơ trào phúng
Học tiếng tàu thỏa lòng nô lệ
Đã bấy lâu đồ tể khát khao
Bí thư nắm củ xu hào
Thanh niên cờ đỏ ngấm vào tủy xương
Tôi là người sính văn chương, cũng muốn học theo văn sĩ Tào Tháo ngày xưa. Mặc
dù La Quán Trung là tác gỉa bộ tiểu thuyết lịch sử trường thiên rất ghét ông, thóa mạ ông là gian
hùng tào tặc. Nhưng tôi thấy La Quán Trung cũng làm lóe lên một sự thật là Tào rất công tâm trọng
người hiền tài văn bút hay. Ví dụ Trần Lâm là người chuyên thảo văn viết hịch kể tôi Tào Tháo
quá lời, nhưng cuối cùng gặp lại Trần Lâm, Tào Tháo lại ngưỡng mộ kẻ bầy tôi như Trần lâm.
Ít
có sử sách nói tới ngày sinh và mất của ông. Ngay khi vào được thành Kinh-Châu, Tào-Tháo sai bắt Trần-Lâm.
Trần-Lâm quỳ lạy trước trướng. Trước đây, Trần-Lâm làm quan chuyên viết hịch cho Viên-Thiệu. Viên-Thiệu
sai Trần-Lâm viết hịch phạt Tào. Bài hịch này lời-lẽ nẩy lửa, đanh-thép có đoạn như sau:
Đành rằng người Việt chúng ta chịu ảnh hưởng nặng cách làm thơ đường luật bên Tàu có khoảng gần nghìn năm nay, nhưng tiếng Tàu là tiếng đơn âm chữ tượng hình, còn tiếng Việt của ta lại đa âm, chữ tượng thanh thật là phong phú.
Cấu trúc thơ đường theo nhịp đổi thanh chú trọng nhiều vào các chữ vị trí số 2, 4, 6, 7 và 8. Cụ thể là bằng trắc bằng bằng hay trắc bằng trắc. Người Việt ta quá thông thái dựa trên nguyên tắc khô cứng niêm luật chặt chẽ của đường thi mà biến hóa ra thành thơ lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt trường thiên bỏ phép đối chữ đối câu. Thời tự lực văn đoàn các nhà thơ mới 7 chữ như Tản Đà, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử v. v… còn sáng tạo ra cả thể thơ 8 chữ theo nhịp bằng trắc. Thể nào thì về nguyên tắc nghệ thuật cơ bản vẫn từ cái gốc thơ đường mà ra. Từ cái gốc đường thi cằn cỗi khô khan, nếu không chăm bón tưới nước bỏ phân thì không bao giờ cho chúng ta hoa thơm quả ngọt vậy. Trong khi Việt Nam đã đi trên chiếc hài vạn dặm của các thể loại nghệ thuật thi ca, thì người Tàu vẫn lẹt đẹt với cái giày cỏ đường thi, cổ phong, thể hành mốc xì, chưa nói họ đã giật lùi theo kiểu thơ nông dân tự do Mao Trạch Đông, không có lề luật vần điệu nhạc tính chi hết. Thể hành giống như thời kỳ đầu manh nha về thơ, theo tôi giống như thơ tự do ngày nay, viết ra cốt lấy ý mà sơ sài về vần điệu nhạc tính. Thế nhưng ông Nguyễn Bá Trác dùng lối thơ nói như thể hành viết ra bài Hồ Trường dịch ra từ Hán sang Việt cũng rất thú vị, nhưng chỉ là cá biệt hiếm hoi mà thôi.