Mittwoch, 27. November 2024

Lục Bát Đấu Tranh Chùm 132

 

A Ha Lại Thằng Vũ Khiêu

 

A ha! khệnh khạng Vũ Khiêu

Khăn rằn lịch lãm ra điều văn nhân

Mã Giám Sinh, giống hán gian

Việt gian cũng giống chó săn lạc loài

Lục Bát Đấu Tranh Chùm 131

 

Cáo Cầy Là Đây*

gửi giặc gìa văn hóa Vũ Khiêu

 

Sơn hà linh khí ôi thiu

Sinh con quái vật liu điu mọt đời

Tung hô bợ đỡ qúa lời

 Ngo ngoe sản phẩm nửa vời đười ươi

Song Thất Lục Bát Đấu Tranh Chùm 120

 

 

Giáo Sư Cò Ỉa

Thơ trào phúng

 

Việt Nam lắm giáo sư cò ỉa

Tấn phong hàm, ngành bịa chuyện cười

Ba hoa phét lác một thời

Uốn lưng quỳ gối, trọn đời ngợi ca

Song Thất Lục Bát Đấu Tranh Chùm 119

 

Mong Bác Trọng Trở Lại Thế Gian

 

Bác về cõi Phật không có cửa

Người ở dương trần dựa dẫm ai

Mau mau xuống nẻo tuyền đài

Lê Nin, Các Mác đầu thai kiếp nào?

Song Thất Lục Bát Đấu Tranh Chùm 118

 

 Bản Chất Nô Tài

Thơ trào phúng

 

Học tiếng tàu thỏa lòng nô lệ

Đã bấy lâu đồ tể khát khao

Bí thư nắm củ xu hào

Thanh niên cờ đỏ ngấm vào tủy xương

Sonntag, 4. Februar 2024

Một Bản Luận Văn Tự bào Chữa Đã Đi Vào Lịch Sử

 

Tôi là người sính văn chương, cũng muốn học theo văn sĩ Tào Tháo ngày xưa. Mặc dù La Quán Trung là tác gỉa bộ tiểu thuyết lịch sử trường thiên rất ghét ông, thóa mạ ông là gian hùng tào tặc. Nhưng tôi thấy La Quán Trung cũng làm lóe lên một sự thật là Tào rất công tâm trọng người hiền tài văn bút hay. Ví dụ Trần Lâm là người chuyên thảo văn viết hịch kể tôi Tào Tháo quá lời, nhưng cuối cùng gặp lại Trần Lâm, Tào Tháo lại ngưỡng mộ kẻ bầy tôi như Trần lâm.
Ít có sử sách nói tới ngày sinh và mất của ông. Ngay khi vào được thành Kinh-Châu, Tào-Tháo sai bắt Trần-Lâm. Trần-Lâm quỳ lạy trước trướng. Trước đây, Trần-Lâm làm quan chuyên viết hịch cho Viên-Thiệu. Viên-Thiệu sai Trần-Lâm viết hịch phạt Tào. Bài hịch này lời-lẽ nẩy lửa, đanh-thép có đoạn như sau:

Samstag, 27. Januar 2024

Cái May Của Nền Văn Hóa Việt Nam Có Thơ Lục Bát

 

Đành rằng người Việt chúng ta chịu ảnh hưởng nặng cách làm thơ đường luật bên Tàu có khoảng gần nghìn năm nay, nhưng tiếng Tàu là tiếng đơn âm chữ tượng hình, còn tiếng Việt của ta lại đa âm, chữ tượng thanh thật là phong phú.

Cấu trúc thơ đường theo nhịp đổi thanh chú trọng nhiều vào các chữ vị trí số 2, 4, 6, 7 và 8. Cụ thể là bằng trắc bằng bằng hay trắc bằng trắc. Người Việt ta quá thông thái dựa trên nguyên tắc khô cứng niêm luật chặt chẽ của đường thi mà biến hóa ra thành thơ lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt trường thiên bỏ phép đối chữ đối câu. Thời tự lực văn đoàn các nhà thơ mới 7 chữ như Tản Đà, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử v. v… còn sáng tạo ra cả thể thơ 8 chữ theo nhịp bằng trắc. Thể nào thì về nguyên tắc nghệ thuật cơ bản vẫn từ cái gốc thơ đường mà ra. Từ cái gốc đường thi cằn cỗi khô khan, nếu không chăm bón tưới nước bỏ phân thì không bao giờ cho chúng ta hoa thơm quả ngọt vậy. Trong khi Việt Nam đã đi trên chiếc hài vạn dặm của các thể loại nghệ thuật thi ca, thì người Tàu vẫn lẹt đẹt với cái giày cỏ đường thi, cổ phong, thể hành mốc xì, chưa nói họ đã giật lùi theo kiểu thơ nông dân tự do Mao Trạch Đông, không có lề luật vần điệu nhạc tính chi hết. Thể hành giống như thời kỳ đầu manh nha về thơ, theo tôi giống như thơ tự do ngày nay, viết ra cốt lấy ý mà sơ sài về vần điệu nhạc tính. Thế nhưng ông Nguyễn Bá Trác dùng lối thơ nói như thể hành viết ra bài Hồ Trường dịch ra từ Hán sang Việt cũng rất thú vị, nhưng chỉ là cá biệt hiếm hoi mà thôi.