Đành rằng người Việt chúng ta chịu ảnh hưởng nặng cách làm thơ đường luật bên Tàu có khoảng gần nghìn năm nay, nhưng tiếng Tàu là tiếng đơn âm chữ tượng hình, còn tiếng Việt của ta lại đa âm, chữ tượng thanh thật là phong phú.
Cấu trúc thơ đường theo nhịp đổi thanh chú trọng nhiều vào các chữ vị trí số 2, 4, 6, 7 và 8. Cụ thể là bằng trắc bằng bằng hay trắc bằng trắc. Người Việt ta quá thông thái dựa trên nguyên tắc khô cứng niêm luật chặt chẽ của đường thi mà biến hóa ra thành thơ lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt trường thiên bỏ phép đối chữ đối câu. Thời tự lực văn đoàn các nhà thơ mới 7 chữ như Tản Đà, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử v. v… còn sáng tạo ra cả thể thơ 8 chữ theo nhịp bằng trắc. Thể nào thì về nguyên tắc nghệ thuật cơ bản vẫn từ cái gốc thơ đường mà ra. Từ cái gốc đường thi cằn cỗi khô khan, nếu không chăm bón tưới nước bỏ phân thì không bao giờ cho chúng ta hoa thơm quả ngọt vậy. Trong khi Việt Nam đã đi trên chiếc hài vạn dặm của các thể loại nghệ thuật thi ca, thì người Tàu vẫn lẹt đẹt với cái giày cỏ đường thi, cổ phong, thể hành mốc xì, chưa nói họ đã giật lùi theo kiểu thơ nông dân tự do Mao Trạch Đông, không có lề luật vần điệu nhạc tính chi hết. Thể hành giống như thời kỳ đầu manh nha về thơ, theo tôi giống như thơ tự do ngày nay, viết ra cốt lấy ý mà sơ sài về vần điệu nhạc tính. Thế nhưng ông Nguyễn Bá Trác dùng lối thơ nói như thể hành viết ra bài Hồ Trường dịch ra từ Hán sang Việt cũng rất thú vị, nhưng chỉ là cá biệt hiếm hoi mà thôi.